Tag Archives: cạnh tranh

Dịch vụ đặt phòng trực tuyến ngày càng phát triển

Dịch vụ đặt phòng trực tuyến ngày càng phát triển

Hai tháng trước đây, Vntrip.vn, start-up Việt Nam chuyên về đặt phòng khách sạn trực tuyến đã chính thức ra mắt dịch vụ tại địa chỉ www.vntrip.vn, đồng thời, công bố hoàn thiện vòng gọi vốn đầu tiên với 3 triệu USD từ các quỹ đầu tư ngoại, đứng đầu là quỹ Fenghe Group và Hancock Revocable Trust.

Dịch vụ đặt phòng trực tuyến ngày càng phát triển

Dịch vụ đặt phòng trực tuyến ngày càng phát triển

Khởi động từ cuối năm 2014 và chỉ mới đưa vào chạy thử nghiệm trong 6 tháng đầu năm 2016, nhưng Vntrip.vn đã nhanh chóng thiết lập được cho mình mạng lưới khách sạn trực tuyến lớn nhất Việt Nam. Điều đáng nói, Vntrip.vn chỉ là một trong số những tên tuổi gần đây nhất được thành lập để kinh doanh lĩnh vực đặt phòng khách sạn trực tuyến. Du khách thế giới và cả Việt Nam thời gian gần đây đã rất quen thuộc với các website cung cấp dịch vụ này, như Agoda, Booking, ivivu, mytour, hotels.com, chudu 24… của các doanh nghiệp trong và ngoài nước. Sự tiện lợi và yếu tố giá cả hợp lý chính là lý do khiến dịch vụ này “làm mưa làm gió” trên thị trường.

Thông tin cho biết, những nhà kinh doanh hàng đầu, như Agoda, đang hợp tác với hàng nghìn khách sạn cả trong và ngoài nước. Mytour, ivivu cũng đang sở hữu một danh sách đối tác đáng nể. Càng giỏi đàm phán với đối tác, có được mức giá rẻ hơn, thì càng trang web này càng nhận được sự ủng hộ của khách hàng. Tất nhiên, mỗi trang đặt phòng lại chọn phân khúc thị trường riêng để kéo khách, từ khách sạn giá rẻ đến cao cấp. Vì thế, khi thị trường bùng nổ, với ngày càng nhiều nhà cung cấp dịch vụ, thì các trang web yếu thế hơn sẽ khó cạnh tranh, và loay hoay với bài toán nên chuyển hướng kinh doanh theo mô hình nào.

Chuyện xảy ra tại một doanh nghiệp đang sở hữu một website chuyên đặt phòng khách sạn trực tuyến trong nước. Trước đây, nhờ chiến lược đi đầu và những nỗ lực không ngừng nghỉ, công ty đã xây dựng được một mạng lưới đối tác khách sạn khá rộng khắp và có giá cả tốt nên đã trở thành một website được khách hàng ưa chuộng. Nhưng hiện nay, sự đổ bộ của hàng loạt đối thủ đến từ nước ngoài đang khiến công ty gặp phải sự cạnh tranh vô cùng khốc liệt. Các đối thủ này đều có tiềm lực lớn, có kinh nghiệm, có công nghệ tốt hơn. Đặc biệt, họ tổ chức được một đội ngũ thương thuyết trực tiếp với các khách sạn, nên luôn có giá cả tốt hơn. Thậm chí, có những đối thủ còn chịu lỗ bước đầu để đưa ra mức giá thấp hơn, nhằm lôi kéo các khách hàng.

Thực trạng này đang khiến công ty đứng trước nguy cơ phải rời khỏi thị trường. Lúc này, CEO (cũng là một cổ đông) và các cổ đông khác đã quyết định ngồi lại với nhau để bàn bạc và định hướng lại chiến lược nhằm giữ vững sự tồn tại của công ty. Tuy nhiên, khi bàn bạc, các bên lại có các quan điểm hoàn toàn trái ngược nhau.

Theo đó, CEO cho rằng, cuộc chiến trong lĩnh vực đặt phòng trực tuyến sẽ ngày càng diễn ra khốc liệt, các đối thủ sẽ ngày càng nhiều và càng quyết liệt hơn trong bối cảnh hội nhập AEC và TPP. Do đó, nên thay đổi hẳn chiến lược, chuyển hẳn sang lĩnh vực đặt phòng trực tuyến đối với phòng trọ, nhà ở, biệt thự riêng… cho khách du lịch. Đây là một loại hình dịch vụ đang thịnh hành ở nước ngoài nhưng chưa phổ biến ở Việt Nam. Nếu đi theo con đường này, doanh nghiệp vừa né được sự cạnh tranh khốc liệt, lại vừa có được những lợi thế cạnh tranh vì là một trong những doanh nghiệp đầu tiên kinh doanh bài bản lĩnh vực này. Tuy nhiên, ý kiến này của CEO bị các cổ đông phản đối, vì cho rằng, điệu kiện nhà ở của người Việt Nam có thể chưa phù hợp với những hình thức này và khung pháp lý cũng chưa có. Do đó, nếu chuyển sang mô hình này sẽ mất rất nhiều thời gian để định hình thị trường, khách hàng và hàng loạt vấn đề khác.

Trong khi nhu cầu sử dụng các dịch vụ đặt phòng trực tuyến cho một gói du lịch đầy đủ đang ngày càng tăng cao. Bởi vậy, các cổ đông cho rằng, công ty nên giữ nguyên dịch vụ hiện tại. Đồng thời, mở rộng tính năng sản phẩm, mở rộng sự lựa chọn cho khách hàng. Theo đó, doanh nghiệp nên phát triển website hiện tại của công ty không chỉ là một website chuyên đặt phòng khách sạn, mà khách hàng có thể “booking online” tất cả các dịch vụ liên quan đến một chuyến đi du lịch, như phương tiện đi lại, nhà hàng ăn uống, các điểm vui chơi giải trí, hướng dẫn viên, khách sạn… Đây sẽ là một sự khác biệt, giúp công ty thoát khỏi sự cạnh tranh của các đối thủ chuyên booking khách sạn.

Thực ra, cả CEO và các cổ đông đều có lý, vấn đề quan trọng là, doanh nghiệp nên quyết định chuyển hướng kinh doanh theo mô hình nào? Câu trả lời sẽ được tìm ra khi CEO và các cổ đông quyết liệt tranh biện về vấn đề này trong Chương trình CEO – Chìa khóa thành công với chủ đề Định hướng chiến lược – Lựa chọn mô hình.

Ông Nguyễn Văn Mết, Chủ tịch kiêm Giám đốc Công ty Xuất nhập khẩu thương mại, phân phối thực phẩm METFOODS sẽ là người chơi ngồi ở vị trí CEO của Chương trình. Ông Nguyễn Văn Mết cũng sẽ là nhân vật xuất hiện trong chuyên mục Gương mặt doanh nhân của Báo Đầu tư, số ra hôm nay.

Giá trị của chữ tín trong kinh doanh

Giá trị của chữ tín trong kinh doanh

Tính cạnh tranh của một doanh nghiệp tùy thuộc vào lòng tin của khách hàng với sản phẩm hoặc dịch vụ được cung cấp bởi doanh nghiệp đó. Do vậy, để khẳng định tính cạnh tranh của mình, doanh nghiệp phải: (1) Ý thức được giá trị tuyệt đối của chữ tín trong kinh doanh và (2) Phải xây dựng được khả năng để làm tốt cái gì mình hứa.

Giá trị của chữ tín trong kinh doanh

Giá trị của chữ tín trong kinh doanh

Tính cạnh tranh được đo lường bởi giá trị thặng dư của sản phẩm. Nói một cách khác, mức độ cạnh tranh là mức độ lợi nhuận của doanh nghiệp. Khả năng cạnh tranh là khả năng làm giàu được trong kinh tế thị trường. Một gánh bún riêu hay một quán cà phê vỉa hè có khách và làm ăn có lãi là có tính cạnh tranh cao hơn một nhà hàng cao cấp ít khách làm ăn không có lãi. Một thương hiệu có uy tín có thể bán sản phẩm giá cao hơn sản phẩm cùng loại của một hãng khác chưa có uy tín bằng. Như vậy tính cạnh tranh, hay nói một cách khác là khả năng sinh lợi trong kinh doanh, không nhất thiết phải tùy thuộc vào mặt hàng nào, công nghệ nào hay số vốn mà thực tế là trên độ tin cậy của người tiêu thụ mặt hàng hoặc dịch vụ đó.

Để ý thức được giá trị tuyệt đối của chữ tín trong kinh doanh, doanh nhân cần có tư duy dịch vụ. Nghĩa là phải luôn đặt mình vào vị trí của người tiêu thụ và tự đánh giá sản phẩm của mình một cách khách quan rên mặt giá trị tiện và lợi.

Nhiều mặt hàng của chúng ta còn thiếu tính cạnh tranh vì mẫu mã không bắt mắt, không tiện sử dụng, từ đó không tạo được lòng tin về nội dung (chất lượng) của mặt hàng đó. Người tiêu dùng nhiều lúc phải loay hoay không biết làm sao để mở một hộp dầu cù là, một gói bánh, một chai nước mắm hay ngay cả một bao khăn lạnh chúng ta dùng hàng ngày. Một gói bánh đậu phụng sản xuất tại Việt Nam với mẫu mã chuẩn bán được giá gấp đôi ở siêu thị Mỹ so với cùng bánh đậu phụng dó với mẫu mã sơ sài bán trong một siêu thị Việt Nam cũng tại Mỹ. Muốn làm tốt hơn cái bánh đậu phụng để bán được giá cao hơn là chuyện đơn giản và không tốn kém bao nhiêu.

Để có tính cạnh tranh cao, người tiêu thụ phải được thuyết phục để tin rằng người sản xuất luôn luôn chu đáo nghĩ đến nhu cầu của họ và đã thỏa mãn nhu cầu của họ xứng đáng với cái giá họ đã trả.

Để xây dựng được khả năng làm được cái gì mình đã hứa, doanh nhân cần chủ động những điều kiện nội tại và biết khai thác triệt để được những điều kiện đó. Doanh nghiệp chỉ cần làm hay trong khả năng sẵn có và có thể có của mình để chủ động được giá thành và giảm rủi ro sản xuất. Đó là tận dụng lợi thế tương đối của mình. Nhiều doanh nghiệp biết tận dụng phế liệu sẵn có để kinh doanh sản xuất có lãi. Rất nhiều doanh nhân Hồng Kông trong những năm 1950 và 1960 là những người ít học, ít vốn nhưng họ đã biết tận dụng cái gì họ có để sản xuất những cái đơn giản nhất mà người khác cần. Họ sản xuất tóc giả cho phụ nữ và đã xuất khẩu gần một tỉ USD tóc giả một năm cho toàn thế giới. Đến khi tóc giả không còn là sản phẩm thời trang nữa thì họ chuyển qua sản xuất hoa giả và đồ chơi trẻ em. Hồng Kông làm giàu từ đó và tập trung vào phát triển dịch vụ thương mại, xuất nhập khẩu và ngan hàng, nơi mà họ có lợi thế tương đối nhờ vào mạng lưới Hoa Kiều khắp thế giới. Họ không nhờ vào công nghệ cao hay sản xuất những hàng phức tạp đòi hỏi vốn đầu tư, kỹ thuật cao, nhưng họ lại có được uy tín sản xuất hàng nào ra hàng đó. Vậy là có ưu thế về cạnh tranh.

Tương tự như kinh tế doanh nghiệp, tính cạnh tranh của một nền kinh tế quốc gia không tùy thuộc vào số khoa học gia hay lượng đầu tư vào ngành nghề công nghệ cao, mà tùy thuộc vào việc cung cấp được cái gì người khác cần trong khả năng của mình có thể chủ động được. Thụy Sĩ là một trong những nước có thu nhập đầu người cao nhất thế giới chỉ nhờ vào khả năng kinh doanh chữ tín của họ trong dịch vụ ngân hàng. Ai bỏ tiền vào ngân hàng Thụy Sĩ cũng tin rằng tiền của mình sẽ không mất và được bảo mật tuyệt đối nên họ chấp nhận mức lãi suất thấp nhất thế giới, tạo cho Thụy Sĩ một thế cạnh tranh tuyệt đối trong ngành này.

Tài nguyên thiên nhiên cũng không phải là một điều kiện cần. Trong số “top ten” những nước có chỉ số cạnh tranh cao nhất, ngoài Mỹ và Úc, còn lại là những nước nhỏ ở Bắc Âu và Đài Loan, Singapore, những quốc gia và lãnh thổ không nhiều tài nguyên thiên nhiên. Những nơi này ngoài điều kiện có được một môi trường kinh doanh thông thoáng không gây trở ngại cho doanh nghiệp, còn chia sẻ một đặc điểm là tính chu đáo trong văn hóa kinh doanh của họ. Trong kinh doanh tính chu đáo và trung thực tạo được sự tin cẩn. Và đó là một lợi thế cạnh tranh được khẳng định.