Tag Archives: kỹ năng đàm phán

Mười lỗi các doanh nhân thường mắc phải

Mười lỗi các doanh nhân thường mắc phải
Mười lỗi các doanh nhân thường mắc phải

Mười lỗi các doanh nhân thường mắc phải

1. Thất bại trong việc sớm sát nhập tổ chức

Một vấn đề nảy sinh ở đây được gọi là “nhà sáng lập bị bỏ quên”: Một đối tác tham gia góp vốn vào dự án ban đầu sau đó bất ngờ rút vốn. Khi dự án đang được tài trợ và chuẩn bị được cổ phần hóa, đối tác này quay trở lại, có lẽ vì họ cho rằng họ đã có nhiều đóng góp lúc đầu và vì thế họ yêu cầu quyền lợi cho mình.

Vấn đề này có thể được giải quyết bằng cách sát nhập sớm và phát hành cổ phiếu cho các nhà sáng lập, tùy thuộc vào quyền lợi của họ. Để được hưởng quyền lợi nhận cổ phiếu, các nhà sáng lập được yêu cầu chuyển nhượng tất cả các sáng kiến và công việc liên quan tới hoạt động kinh doanh dự kiến của công ty tới công ty mới.

Việc sát nhập sớm – trước khi các giá trị quan trọng và các sự kiện tài chính tạo ra các giá trị ngầm trong cổ phiếu, cũng giúp tránh các vấn đề về thuế có khả năng xảy ra đối với cổ phiếu giá rẻ.

Nếu sát nhập quá muộn và phát hành các cổ phiếu giá rẻ cho các nhà sáng lập cùng thời điểm với việc các cổ phiếu giá cao hơn được bán cho các nhà đầu tư, có thể gây ra các vấn đề liên quan đến thuế khi mà IRS lập luận rằng sự chênh lệch của giá cổ phiếu thực ra là một phần thu nhập của các doanh nhân.

2. Phát hành cổ phiếu của cổ đông sáng lập không có quyền lợi:

Quyền lợi giúp bảo vệ các thành viên của đội ngũ sáng lập ra dự án. Nếu những thành viên vẫn còn ở lại trong đội ngũ sáng lập và đem lại lợi ích cho dự án, cổ phiếu của họ sẽ có quyền lợi. Nếu họ từ bỏ vị trí đó, cổ phiếu của họ sẽ bị thu hồi và giao cho bất kỳ cổ đông nào được đưa vào để thay thế họ.

3. Thuê một luật sư không có kinh nghiệm làm việc với doanh nhân và các nhà đầu tư mạo hiểm

Nhiều nhà đầu tư mạo hiểm nói rằng họ thường hay đánh giá doanh nhân thông qua việc doanh nhân đó lựa chọn luật sư như thế nào.

Những luật sư không có kinh nghiệm làm việc với các doanh nhân và các nhà đấu tư mạo hiểm thường rất hay đi sai hướng, đồng thời họ thất bại khi gặp phải những cạm bẫy tinh vi.

Tốt nhất là nên thuê một người đã có kinh nghiệm, người biết được những yếu tố nào là chuẩn mực và không phải là chuẩn mực và người biết cách đàm phán, tiến hành hợp đồng một cách nhanh chóng.

4. Thất bại khi muốn sử dụng hợp lý phân khúc 83 (b) election

Nếu lời khuyên ở mục 2 được thực hiện, cổ phiếu sẽ được phát hành tùy theo quyền lợi cho các cổ đông sáng lập và những nhân viên mới.

Nếu cổ phiếu được mua và phụ thuộc vào yếu tố mà IRS gọi là rủi ro đáng kể khi bị tước tài sản, thì IRS sẽ không coi vụ mua bán này đã được thực hiện cho đến khi rủi ro này mất đi.

Sau đó IRS sẽ tính toán mức chênh lệch giữa giá mua ban đầu và giá trị thị trường. Đánh thuế khoản chênh lệch này và coi đó là một khoản thu nhập thông thường. 83(b) election cho phép tính toán mức thuế dựa trên giá trị tại thời điểm cổ phiếu được phát hành và thường được tính bằng số tiền trên một cổ phiếu.

“Một công ty không có tên tuổi được định giá cao nhất thường không phải là nguồn cung cấp vốn tốt nhất” — Constance Bagley.

5. Đàm phán vấn đề tài trợ vốn đầu tư mạo hiểm dựa vào việc định giá

Việc định giá công ty không phải là yếu tố duy nhất được cân nhắc khi muốn lựa chọn một nhà đầu tư vốn mạo hiểm hoặc khi đàm phán hợp đồng. Có rất nhiều cách khác để nhà đầu tư vốn mạo hiểm có thể nhận lại phần đền bù nếu họ đã phải trả một giá cao để mua cổ phiếu. Đó có thể là việc yêu cầu những người tham gia lựa chọn một mức cổ tức tích lũy cao, hưởng quyền mua lại sau chỉ vài năm và bảo vệ chống lại sự suy giảm chất lượng.

Người ta sẽ phải đưa ra câu hỏi, vậy danh tiếng của một công ty là gì? Nếu một doanh nhân mắc phải sai lầm, thì công ty đó có đứng ra ủng hộ và bảo vệ cho doanh nhân đó hay không? Công ty đó có những mối quan hệ tốt trong ngành không? Trong nỗ lực thiết lập các đồng minh thân cận, công ty đó có biết ai là đồng minh lớn không? Một công ty không có tên tuổi được định giá cao nhất thường không phải là nguồn cung cấp vốn tốt nhất.

6. Đợi chờ xem xét quyền bảo vệ sở hữu trí tuệ quốc tế

Bằng sáng chế được cấp theo tiêu chí của từng quốc gia. Ngoại trừ một tiêu chí duy nhất được áp dụng đối với cộng đồng châu Âu. Ở Mỹ, nếu một phát minh được bán hoặc được công khai sử dụng, thời gian được phép gia hạn để đệ trình việc sử dụng bằng sáng chế đó là một năm.

Ở những nơi khác, nếu một bằng sáng chế được bán hoặc được sử dụng công khai trước khi được đệ trình sử dụng, thì phát minh đó không được coi là có bằng sáng chế ở quốc gia đó.

Chẳng hạn, nếu một phát minh được trưng bày công khai cho người Nhật xem tại một hội chợ triển lãm ở Mỹ, thì theo luật bằng sáng chế của Nhật Bản, việc trưng bày đó sẽ khiến cho phát minh này được coi là không có bằng sáng chế ở Nhật nếu như chưa có văn bản đệ trình việc sử dụng phát minh đó.

Vấn đề thương hiệu cũng được giải quyết tương tự. Người ta có thể bỏ ra một số tiền lớn để phát triển một thương hiệu tại Hoa Kỳ, tuy nhiên khi sản phẩm đó được mang ra nước ngoài, sản phẩm này có thể xâm phạm thương hiệu của các công ty khác có sản phẩm tương tự.

Một công ty phải đưa ra những lựa chọn khôn ngoan cho thị trường của mình, và công ty đó phải giành ra bao nhiêu tiền trong giai đoạn đầu để bảo đảm thương hiệu của họ có thể tồn tại ở những thị trường đó.

7. Trưng bày các phát minh mà không có hợp đồng cam kết không tiết lộ bí mật, hoặc trước khi đệ đơn xin sử dụng bằng sáng chế đó

Nếu chưa giành được quyền bảo vệ bằng sáng chế, hoặc trong trường hợp bằng sáng chế không có hiệu lực, công cụ bảo vệ duy nhất là coi đó là một bí mật thương mại. Để làm được như vậy, công ty phải thể hiện công ty đã tiến hành những bước phù hợp để giữ bí mật đó với các đối thủ cạnh tranh của mình.

Liệu đó có phải là việc làm khôn ngoan không khi yêu cầu các nhà đầu tư mạo hiểm ký các hợp đồng cam kết không tiết lộ thông tin? Câu trả lời là có, nhưng đa số lại không làm như vậy.

Trước khi trưng bày phát minh đó, công ty cần phải biết nhà đầu tư mạo hiểm nào có uy tín chưa gặp điều tiếng gì trong ngành. Khi giao dịch với nhiều người, sẽ là khôn ngoan khi yêu cầu họ ký vào những hợp đồng cam kết không tiết lộ thông tin.

Mặc dầu không có gì phức tạp cả, nhưng họ sẽ nhận ra rằng họ sẽ có thể phải phơi bày những bí mật thương mại của mình và họ đồng ý sẽ không sử dụng hay tiết lộ các bí mật đó nếu không được phép. Các kế hoạch chỉ nên đưa ra những thông tin ngắn gọn: Các phát minh này đã được giữ bí mật và độc quyền.

Mặc dầu không mang tính cưỡng chế cao như các hợp đồng cam kết không tiết lộ thông tin, nhưng luật ở một số bang cho thấy rằng nếu một người biết rằng họ đang bị đặt vào tình thế phải để lộ các bí mật thương mại của mình, họ sẽ không thể sử dụng hay trưng bày nó nếu không được sự đồng ý của người chủ sở hữu bí mật thương mại đó.

“Các doanh nhân có thể bị các nhà tài trợ kiện vì tội gian lận không? Câu trả lời là có” — Constance Bagley.

8. Mở một công ty trong khi vẫn đang làm thuê cho đối thủ tiềm năng, hay thuê nhân viên mà trước hết không kiểm tra những hợp đồng của họ với các ông chủ hiện nay và kiến thức về bí mật thương mại của họ

Bộ luật đã trình bày rõ ràng rằng nếu một ai đó hiện đang làm việc cho một công ty, đặc biệt là khi họ đang giữ một vị trí quan trọng, người đó sẽ không thể đứng ra mở một công ty cạnh tranh với công ty họ đang làm việc. Chỉ đơn thuần là việc sát nhập thôi cũng có thể bị người chủ hiện tại kiện ra tòa.

Những doanh nhân đó có nên trước hết đến gặp người chủ hiện nay của mình và lựa chọn: Hoặc là xin nghỉ việc, hoặc nói với người chủ của mình về công việc mà họ đang làm và hỏi liệu người chủ đó có quan tâm đến việc đầu tư vào đó hay không. Điều thú vị là cả hai cách trên đều thường xuyên là cách đơn giản nhất để kết thúc mối quan hệ. Dù trong trường hợp nào, người chủ cũng hiểu theo hàm ý khác về bản chất hình thành của công ty mới.

Thậm chí là ngay cả khi đã từ bỏ công việc của mình, ta vẫn chưa thể sử dụng hay trưng bày bí mật thương mại hay bí quyết công nghệ của công ty mình đã làm việc. Với cái mà người ta gọi là chủ nghĩa không tiết lộ bí mật, nếu ai đó đã biết về bí mật thương mại của công ty cũ trong quá trình làm việc và chuyển sang làm cho một công ty khác, nếu vai trò của người đó ở công việc mới cũng tương tự như ở công ty cũ, một số tòa án sẽ kết luận rằng việc người đó sử dụng những thông tin mà họ có được từ công việc trước đây là tất yếu. Họ có thể được lệnh của tòa yêu cầu họ không được làm việc cho công ty mới trong vài tháng và cho đến chừng nào mà bí mật thương mại mà họ biết không còn có nhiều giá trị nữa.

Quy định này cũng giúp ta tìm hiểu xem liệu nhân viên mới có bị lệ thuộc vào hợp đồng giao kèo quy định không được cạnh tranh hay không. Mỗi nước có quy định về tính hiệu lực khác nhau, nhưng ta không nên giả định rằng quy định ở các nước là như nhau. Ta cũng nên thường xuyên kiểm tra xem các chứng từ chuyển nhượng phát minh đã được ký kết hay chưa.

Các hồ sơ cá nhân cũng nên được xem lại và các nhân viên mới cũng cần kiểm tra hồ sơ cá nhân của họ để chắc chắn rằng hợp đồng giao kèo không cạnh tranh hay chứng từ chuyển nhượng phát minh không kèm theo với hợp đồng cam kết không tiết lộ bí mật đã được ký kết.

9. Hứa hẹn nhiều hơn khả năng có thể trong bản kế hoạch kinh doanh và thất bại khi muốn tuân theo luật chứng khoán của bang và quốc gia

Nếu một ai đó hứa hẹn sẽ làm một điều gì đó và nhận ra rằng mình không thể làm được như họ đã hứa, ta có thể coi đó là sự gian trá. Trong một bản kế hoạch kinh doanh, ta phải trung thực đánh giá những gì có thể làm được và trình bày những giả định của mình, nhờ đó những nhà tài trợ có thể đánh giá xem dự án đó có khả thi hay không.

Các doanh nhân có thể bị nhà tài trợ của mình kiện vì tội gian trá hay không? Câu traqr lời là có. Cố gắng đưa ra thêm một chút đánh giá sai lệch bằng cách làm giả các số liệu đáng tin cậy sẽ làm nhà đầu tư cảm thấy không tin tưởng và rốt cục làm ảnh hưởng đến khả năng tài trợ cho những lần kế tiếp.

Cuối cùng, bất cứ ai bán cổ phiếu hoặc các loại chứng khoán khác phải tuân theo luật chứng khoán của bang và quốc gia, có thể là đăng ký chứng khoán (hiếm khi xảy ra khi công ty mới hình thành) hoặc đạt được tất cả các điều kiện cho phép miễn phù hợp. Sẽ là sai lầm nếu bỏ qua luật pháp.

Như một thẩm phán đã nói khi đưa ra quyết định bảo vệ lời cáo buộc vi phạm luật chứng khoán rằng: “Sẽ không có ai ngu ngốc đến mức dám đầu tư vào một công ty nếu như không am hiểu về những quy định pháp luật đầy rẫy ở bên ngoài”.

10. Nghĩ rằng các vấn đề pháp lý có thể được giải quyết sau này

Có một xu hướng nghĩ như thế này “Khi tôi có được nhà tài trợ, khi tôi đã đi vào hoạt động, sau đó tôi có thời gian để thuê luật sư, giờ đây, tôi đang rất cố gắng có thể để hoàn thành những kế hoạch kinh doanh của tôi và thu tiền về”. Đây là một lối suy nghĩ rất thiển cận. Điều đó có nghĩa là ta phải dành hết thời gian, nỗ lực và tiền bạc vào các vấn đề pháp lý?

Không. Đó là một lý do hay để thuê một luật sư có năng lực. Những luật gia tài năng có thể được giữ lại bằng cách bỏ ra thêm một số tiền tương đối nhỏ vào giai đoạn đầu. Chi phí sẽ giảm đi rất nhiều khi ta có được luật sư giỏi ngay từ đầu thay vì cố gắng lựa chọn sau này và khắc phục nó.

Bí quyết thỏa thuận về mức lương

Bí quyết thỏa thuận về mức lương

Lương bổng là một trong những yếu tố quan trọng nhất ảnh hưởng đến tinh thần và hiệu quả làm việc về lâu dài của bạn. Vì thế, dù kinh tế thịnh hay suy, bạn cũng nên thương lượng lương khi dự phỏng vấn. Chỉ cần có sự chuẩn bị kỹ càng, bạn hoàn toàn có thể đạt được mức lương mong muốn trong cuộc “đấu trí” này!\

Bí quyết thỏa thuận về mức lương

Bí quyết thỏa thuận về mức lương

1. Cập nhật thông tin về mặt bằng lương 
Khi kinh tế suy yếu, các doanh nghiệp buộc phải thận trọng hơn khi lập và sử dụng ngân sách, trong đó bao gồm cả quỹ lương. Có khả năng, cùng một vị trí nhưng mức lương họ trả giờ đây có thể chỉ bằng 70 – 80 % so với lúc trước. Vì thế, để tránh đưa ra những mức lương gây “sốc” cho NTD trong lúc phỏng vấn, việc đầu tiên bạn nên làm là cập nhật thông tin về mặt bằng lương của vị trí bạn ứng tuyển.

 

Bạn có thể truy cập vào các trang web về giáo dục – đào tạo để theo dõi những bài viết giới thiệu về các ngành nghề trong xã hội với một số thông tin về mức lương; hoặc các trang web về việc làm để tìm kiếm thông tin lương có thể đăng kèm với vị trí tuyển dụng.

Bên cạnh đó, bạn cũng nên tận dụng mạng lưới quan hệ xã hội(networking) của mình. Hãy hỏi thăm bạn bè hoặc người thân làm việc trong ngành về mức lương của các vị trí tương đương, nhưng nên đề cập một cách khéo léo vì đây là vấn đề tế nhị.

2. “Thẩm định” chính xác giá trị của bản thân
Thời gian gần đây, bạn có thể dễ dàng bắt gặp các thông báo tuyển dụng như sau: “Cần tuyển một Trợ lý Tổng Giám Đốc kiêm Marketing” hay “Cần tuyển một kỹ thuật viên đồ họa có 3-4 năm kinh nghiệm và có thể kiêm nhiệm phụ trách IT cho công ty”. Trong thời điểm kinh tế khó khăn, việc NTD đòi hỏi ứng viên phải có khả năng đảm nhiệm nhiều công việc như thế cũng là điều dễ hiểu. Vì thế, bạn cần nắm chắc tất cả những giá trị mình có thể đóng góp cho công ty nếu được tuyển dụng như kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm làm việc …, chẳng hạn: kinh nghiệm 5 năm làm thư ký cho các tổ chức nứơc ngoài, cử nhân Quản trị Kinh Doanh, chứng chỉ Giám Đốc Tiếp Thị …Đây rất có thể sẽ là những yếu tố giúp bạn “ghi điểm” khi thương lượng lương với NTD.

3. Lưu ý đến những lợi ích khác ngoài lương
Nhìn chung, người ta đi làm chủ yếu vì “động cơ tài chính”, nghĩa là muốn kiếm một khoản thu nhập để nuôi sống bản thân và gia đình. Tuy nhiên, các yếu tố khác như cơ hội đào tạo, tích lũy kinh nghiệm, niềm tự hào khi được làm việc cho một công ty tên tuổi … cũng không kém phần quan trọng. Đặc biệt, ngoài lương chính thức ra, bạn bao giờ cũng được hưởng những khoản phúc lợi khác như tiền thưởng hàng năm, tiền trợ cấp … Do đó, vào thời điểm NTD khó có thể trả mức lương (chính thức) cao cho bạn như thường lệ, bạn nên lưu ý đến

những yếu tố này khi thương lượng lương để có một sự đánh giá toàn diện và đúng đắn hơn về những lợi ích công việc này có thể mang đến cho bạn.

4. Chọn mức lương làm hài lòng cả đôi bên
Thông thường, nếu NTD đề cập đến lương bổng thì có nghĩa là họ đã khá ưng ý với ứng viên rồi. Vì thế, lúc phỏng vấn ở một công ty sản xuất hàng tiêu dùng, anh X, chuyên viên quản trị mạng, đã rất vui mừng khi nghe NTD hỏi : “Anh đề nghị mức lương ra sao?”. Tuy nhiên, anh vẫn cẩn thận tìm hiểu thêm thông tin từ NTD: “Trước khi bàn về mức lương của tôi, ông có thể cho tôi biết ngân sách của công ty dành cho vị trí này?”

Thông tin NTD đưa ra: “Mức lương dao động từ 400 – 500 USD nhưng còn tùy vào năng lực của ứng viên” làm anh hơi thất vọng vì mức lương anh mong muốn là 520 – 600 USD. Tuy nhiên, anh hiểu rằng vào thời điểm hiện tại không nên đòi hỏi quá nhiều ở NTD. Vì thế, anh trả lời: “Hiện nay, tôi kiếm được 490 USD/tháng. Cũng giống như hầu hết mọi người, tôi mong muốn cải thiện mức lương của mình. Tuy nhiên, mặt khác, đối với tôi, được làm công việc này đã là phần thưởng giá trị nhất. Vì thế, tôi đề nghị mức lương khởi điểm 500 USD/tháng” Cuối cùng, NTD đã đồng ý với đề nghị này của anh.

Như các bạn thấy, anh X đã khéo léo chọn một con số vừa nằm trong khả năng chi trả của NTD vừa không cách xa so với khoảng lương mình mong muốn. Nhờ vậy, cả hai bên đều hài lòng với mức lương này. Đồng thời, qua việc khẳng định mình rất yêu thích công việc, anh còn gây thêm được thiện cảm cho NTD.

5. Hãy thẳng thắn khi thương lượng lương!
Khi được hỏi về mức lương mong muốn, một số ứng viên thường tỏ ra rất khiêm nhường: “Điều quan trọng nhất đối với tôi là được học hỏi và rèn luyện trong một môi trường năng động và chuyên nghiệp như công ty của Ông/Bà. Còn chuyện lương bổng chỉ là thứ yếu” Họ nghĩ cách trả lời như thế sẽ làm hài lòng NTD. Chưa chắc đâu! NTD có thể sẽ đánh giá bạn không có năng lực, tìm được việc làm là tốt rồi nên không cần cân nhắc mức lương. Hoặc tệ hơn nữa là bạn đang nói dối. Khi đó bạn sẽ mất cơ hội thương lượng được mức lương mong muốn.

Vậy nên, tốt nhất là bạn hãy trình bày một cách thẳng thắn: “Đối với tôi, cơ hội học hỏi, tích lũy kinh nghiệm và lợi ích tài chính đều quan trọng như nhau. Tôi mong muốn có được một mức lương phù hợp để có thể toàn tâm toàn ý đóng góp vào sự phát triển của công ty. Vì vậy, tôi đề nghị mức lương X USD/tháng.”

 

Kỹ năng đàm phán cho các nhà quản trị

Kỹ năng đàm phán cho các nhà quản trị

Biết rõ những điều mà bạn muốn – là một nhà quản trị, điều quan trọng cần làm khi bước vào cuộc đàm phán là biết rõ bạn muốn kết quả cuối cùng của mình như thế nào.

Kỹ năng đàm phán cho các nhà quản trị

Kỹ năng đàm phán cho các nhà quản trị

Biết rõ đối tác bạn muốn gì – Đối tác của bạn cũng sẽ có một lịch làm việc khi họ bước vào cuộc đàm phán. Hãy lưu ý tìm hiểu trước họ muốn kết thúc buổi đàm phán đó như thế nào. Hiểu rõ giải pháp tài chính, tình cảm, tinh thần hay vất chất mà họ mong muốn có được. Hãy dự đoán các ý kiến phản đối – quá trình đàm phán không phải lúc nào cũng dễ dàng. Là một người quản lý, bạn phải hiểu rằng bạn sẽ vấp phải những phản đối từ nhân viên khi tiến hành. Bạn cần tự chuẩn bị cho điều này thật chu đáo trước buổi đàm phán. Đảm bảo rằng bạn có các bằng chứng liên quan trong tay mà bên kia có thể xác định và liên hệ tới được.

Xác định những khoản nhượng bộ – Xác định những yếu tố không thể đàm phán và những điều mong muốn và những điều mà bạn sẵn sàng cho đi để nhận lại cái khác. Tất nhiên, bạn sẽ không bao giờ thỏa mãn hết tất cả các nhu cầu của mình sau buổi đàm phán. Các cuộc đàm phán thường mang tính chất có qua có lại và với tư cách là một nhà quản lý, bạn cần đáp ứng một phần đòi hỏi của nhân viên.

Xác định “điểm ra về” của bạn – Khi bạn xác định “điểm ra về” của mình, bạn sẽ định rõ vào lúc nào sẽ không cần phải tiến hành đàm phán nữa. Trước khi bắt đầu các cuộc đàm phán, bạn phải nắm chắc những điểm mà mình sẽ chấm dứt cuộc nói chuyện. Đây sẽ là một nguồn rất quan trọng để bạn nắm được quyền lực trong cuộc đàm phán, vì thế khi bạn gặp phải tình huống đã chuẩn bị thì bạn phải chắc chắn là mình hành động.

Luyện tập với đồng nghiệp – Cũng như bất kỳ buổi thuyết trình quan trọng nào khác, bạn cần phải luyện tập. Bạn có thể đối mặt với một cuộc tranh luận và cách tốt nhất là phải tập dượt các kết quả có thể có. Thông qua việc tập luận với một ai đó, bạn sẽ xây dựng được sự tự tin trước tình huống đó và nó sẽ giúp cuộc đàm phán diễn ra thật suôn sẻ.

Điều cần nhớ khi phát triển một chiến lược thương lượng

Điều cần nhớ khi phát triển một chiến lược thương lượng

Một vài điều cần nhớ khi phát triển một chiến lược thương lượng:

Điều cần nhớ khi phát triển một chiến lược thương lượng

Điều cần nhớ khi phát triển một chiến lược thương lượng

Hành động một cách hợp tác, không phải một cách cạnh tranh. Không phải là: “tôi chống lại anh”. Chúng ta xem người khác là một đối tác, chúng ta nhận thức được rằng mỗi người tham gia thương lượng đều vì một lợi ích nào đó. Sẽ là một sai lầm lớn khi nghĩ ai đó sẽ cho không bạn cái gì. Vì thế, cố gắng xác định điều gì người khác muốn, đổi lại thứ bạn muốn. Sau đó trình bày điều kiện của bạn để chỉ cho họ rằng, nếu họ giúp bạn có được thứ bạn cần, bạn cũng sẽ giúp họ có được thứ họ cần. Đôi bên cùng có lợi.

Xác định tình huống: Khi thương lượng, bạn không nói với tổ chức đó, mà nói với người đại diện cho tổ chức đó, đang ngồi trước mặt bạn. Khi bạn xem người khác trong quan điểm này, bạn có thể nhìn thẳng vào mắt họ.

Tăng cường mong đợi của bạn: Bạn thường có những điều bạn mong sẽ có. Nếu bạn không nghĩ bạn sẽ được thăng tiến, có thể bạn sẽ không được. Nếu bạn không nghĩ bạn sẽ giành được hợp đồng nào đó, thì chưa chắc bạn đã giành được. Bạn sẽ không thể nỗ lực vào điều bạn nghĩ sẽ không thành công. Vì thế, bạn có thể hành động tốt nếu bạn mong muốn có được cái bạn cần. Bạn sẽ ngạc nhiên khi thấy rằng, khi bạn thực sự mong đợi có được cái bạn đang tìm kiếm, những người khác cũng sẽ cảm nhận được mong muốn của bạn.

Nguyên tắc cơ bản để thành công trong đàm phán

Sự đạt được thỏa thuận chính là sự thành công của các bên tham gia. Việc nắm vững các nguyên tắc cơ bản sẽ giúp thành công cho cuộc đàm phán:

Nguyên tắc cơ bản để thành công trong đàm phán

Nguyên tắc cơ bản để thành công trong đàm phán

–         Đàm phán là một việc tự nguyện

–         Phải có ít nhất một trong các bên muốn thay đổi thỏa thuận hiện tại và tin rằng sẽ đạt được mong muốn đó.

–         Chỉ xảy ra khi các bên cùng hiểu rằng những quyết định được hình thành trên cơ sở thỏa thuận chung chứ không phải là quyết định đơn phương

–         Thời gian là một trong những yếu tố quyết định trong đàm phán

–         Cuộc đàm phán thành công là cuộc đàm phán có các bên cùng đạt được mong muốn trong phạm vi nào đó

–         Phẩm chất, năng lực, kỹ năng, thái độ và tình cảm của những người trên bàn đàm phán có ảnh hưởng quyết định đến tiến trình đàm phán.

Những sai lầm thường mắc phải trong đàm phán

–         Các bên có định kiến lẫn nhau

–         Không xác định được người có quyền quyết định cuối cùng

–         Không xác định được thế mạnh của mình và sử dụng chúng một các hiệu quả

–         Chỉ có một phương án duy nhất, không có phương án thay thế

–         Không biết cách nâng cao vị thế của mình

–         Không kiểm soát được những yếu tố quan trọng (thời gian, vấn đề,…)

–         Đánh mất cơ hội được quyền ra yêu cầu trước

–         Vội bỏ cuộc khi hình như gặp bế tắc

–         Không chọn được thời điểm kết thúc hợp lý.

Những điều cần tránh khi đàm phán

Những điều cần tránh khi đàm phán

1. Không nhìn vào mắt đối tác đàm phán:

Sẽ gây cảm giác không thiện cảm, không tin tưởng, thậm chí gây nghi ngờ từ phía đối tác, nhìn vào mắt đối tác khi đàm phán, vừa thể hiện sự tự tin, quan tâm của mình vừa đem lại tin cậy cho đối tác.

Những điều cần tránh khi đàm phán

Những điều cần tránh khi đàm phán

2. Không có kế hoạch cụ thể:

Cuộc đàm phán không có kế hoạch cụ thể định trước sẽ không đem lại kết quả như mong muốn. Nếu có nhiều nội dung, lĩnh vực đàm phán thì cần phải phân loại, sắp xếp trước để tránh lẫn lộn khi đàm phán.

3. Không thông báo trước nội dung đàm phán khi thỏa thuận lịch đàm phán với đối tác:

Điều này có thể làm cho buổi đàm phán thương thuyết sẽ thất bại và nhiều khi thất bại với lý do đáng buồn như nhầm nội dung đàm phán hay phía công ty đối tác cử nhầm người ra đàm phán vì không rõ nội dung sẽ đàm phán.

4. Ðể cho đối tác quá nhiều tự do, quyền chủ động khi đàm phán:

Nếu đối tác nói quá nhiều thì người đàm phán nên chủ động, khéo léo, cắt ngang hay đổi hướng bằng những câu hỏi hợp lý để cùng nhau quay về nội dung chính của đàm phán. Có nhiều trường hợp đối tác lợi dụng gặp gỡ đàm phán để quảng cáo, đàm phán bán một mặt hàng hòan toàn khác.

5. Ðưa hết tất cả thông tin, lý lẽ trình bày thuyết phục ra ngay từ đầu buổi đàm phán:

Như vậy, chẳng khác gì nhà đàm phán đã “bắn hết đạn” ngay từ lúc đầu mà không hiệu quả. Hãy sử dụng lần lượt các thông tin, lý lẽ thuyết phục của mình cho từng nội dung hay từng thắc mắc tìm hiểu của đối tác. Nên nhớ rằng đối tác cần có thời gian để tiếp nhận, “tiêu hóa” các thông tin trước khi bị thuyết phục để đi đến thống nhất trong đàm phán.

6. Lảng tránh ý kiến phản đối hay nghi ngờ từ phía đối tác:

Ðiều đó chỉ làm cho đối tác càng có lý do khẳng định ý kiến phản đối hay nghi ngờ của họ và từ đó sẽ gây ra định kiến trong suốt quá trình đàm phán. Vì vậy, cần phải hỏi lại thắc mắc của đối tác và kiên nhẫn trả lời bằng tất cả các lý lẽ thông tin của mình.

7. Không chuẩn bị trước các giới hạn cần thiết khi đàm phán:

Ðiều này đã hạn chế rất nhiều phạm vi đàm phán khi không thể có những linh hoạt nhân nhượng trong chừng mực có thể. Và như thế, không chỉ gây thất bại cho lần đàm phán thương thuyết này mà còn tạo ra định kiến và báo trước thất bại cho cả những lần đàm phán sau.

8. Người đàm phán tìm cách áp đảo đối tác:

Người đàm phán giỏi không tìm cách áp đảo, dạy bảo đối tác mà nên tự đặt mình là người thể hiện tinh thần học hỏi khi đàm phán. Không nên có những lời lẽ, cử chỉ mang tính áp đảo gây mất cảm tình, khó chịu cho đối tác.

Những lỗi thường gặp trong quá trình đàm phán

Những lỗi thường gặp trong quá trình đàm phán
Những lỗi thường gặp trong quá trình đàm phán

Những lỗi thường gặp trong quá trình đàm phán

Những lỗi thường gặp trong quá trình đàm phán:

1. Bước vào đàm phán với đầu óc thiếu minh mẫn

2. Không biết đối tác ai là người có quyền quyết định

3. Không biết điểm mạnh của mình là gì và sử dụng nó như thế nào

4. Bước vào đàm phán với mục đích chung chung

5. Không đề xuất những quan điểm và lý lẽ có giá trị

6. Không kiểm sóat các yếu tố tưởng như không quan trọng như thời gian và trật tự của các vấn đề

7. Không để cho bên kia đưa ra đề nghị trước

8. Bỏ qua thời gian và địa điểm như là 1 vũ khí trong đàm phán

9. Từ bỏ khi cuộc đàm phán dường như đi đến chỗ bế tắc

10. Không biết kết thúc đúng lúc

Những điểm cơ bản để tránh lỗi thông thường:

1. Không ngắt lời bên kia. Nói ít và tích cực nghe

2. Đặt các câu hỏi mở có mục đích để tạo sự hiểu biết

3. Sử dụng chú giải, những bình luận hài hước và tích cực

4. Sử dụng viêc ngừng đàm phán để kiểm sóat được nội bộ

5. Lập 1 mục tiêu rõ ràng, cụ thể và thực tế trước khi đàm phán

6. Tóm tắt thường xuyên

7. Liệt kê những điểm cần giải thích và những điểm đã hiểu

8. Tránh dùng những ngôn ngữ yếu

9. Không chỉ trích bên kia. Tìm ra những điểm chung của cả 2 bên để đi đến thỏa thuận

10. Tránh chọc tức

11. Tránh đưa ra quá nhiều lý do cho đề nghị của mình.

12. Tránh bộc lộ cảm xúc bột phát, khiển trách, công kích hay chế nhạo cá nhân.

Nguyên tắc để thành công khi đàm phán

Nguyên tắc để thành công khi đàm phán

Làm được những điều dưới đây tức là nhà đàm phán đã chủ động điều tiết buổi thương thuyết. Những điểm chưa rõ có thể sẽ được giải quyết khi được nhắc lại. Nếu khéo léo thì nhà thương thuyết có thể đưa cả hướng giải quyết cho điểm nội dung đàm phán tiếp theo. Thực hiện việc nhắc lại và tóm tắt từng nội dung đã đàm phán sẽ giúp cho nhà thương thuyết luôn luôn không xa rời mục tiêu đàm phán, quá trình đàm phán trở nên có hệ thống, bài bản và là cơ sở cho những lần đàm phán tiếp theo.

 Nguyên tắc để thành công khi đàm phán

Nguyên tắc để thành công khi đàm phán

1. Ấn tượng ban đầu.

Không nên đối đầu ngay với đối tác đàm phán bằng những yêu cầu định hỏi. Trước hết phải tạo ra một không khí tin cậy, dễ chịu bằng một vài câu nói mang tính cá nhân bằng cử chỉ và thái độ vui vẻ, dễ chịu. Bạn luôn nhớ rằng sẽ không bao giờ có cơ bội lần thứ hai để gây ấn tượng ban đầu. Sau đó bạn sẽ bắt đầu nói về chủ đề nội dung mà bạn định đàm phán, thương thuyết với đối tác.

2. Chú ý tới các cử chỉ, thái độ và động tác của cơ thể trong khi đàm phán.

Ít nhất một nửa thông tin định truyền đạt trong đàm phán được thông qua và tiếp nhận qua các cử chỉ, thái độ và động tác của cơ thể bạn. ít nhất một phần ba thông tin được tiếp nhận thông qua tiếng nói, giọng điệu và cách nói của người đàm phán. Một gương mặt hồ hởi, thái độ cởi mở sẽ nhanh chóng tạo nên thiện cảm từ phía đối tác đàm phán. Ý thức đánh giá cao, coi trọng đối tác của người đám phán sẽ thể hiện ngay trong cách thể hiện, giọng điệu và cách nói. Chỉ có thể đàm phán và thuyết phục thành công nếu tự người đàm phán không có ý thức và cảm giác mình sẽ hoặc đang đóng kịch với đối tác.

3. Phải xác định rõ mục tiêu đàm phán và luôn luôn bám sát theo đuổi mục tiêu này trong suốt quá trình đàm phán.

Người nào không biết rõ mình muốn gì thì sẽ thường đạt được kết quả mà mình không mong muốn. Vì vậy, trước khi vào cuộc đàm phán thương thuyết, người đàm phán phải cố gắng chia tách mục tiêu cuối cùng của mình thành những mục tiêu nhỏ mà mình phải trao đổi với đối tác và đạt được kết quả. Nếu càng có nhiều mục tiêu cụ thể và luôn theo đuổi các mục tiêu này trong quá trình đàm phám thì kết quả cuối cùng của đàm phán càng chóng đạt được.

4. Người đàm phán tốt phải biết rèn cho mình có khả năng lắng nghe đối tác nói.

Người ta nói rằng người thắng cuộc bao giờ cũng là người biết nghe. Chỉ có ai thật sự quan tâm chú ý lắng nghe đối tác đàm phán với mình nói gì, muốn gì thì người đĩ mới có những phản ứng, lý lẽ phù hợp có lợi cho mình. Khi nghe đối tác trình bày cần phải biết phân biệt tâm trạng, thái độ của họ. Xem họ có biểu hiện trạng thái quá hưng phấn, bốc đồng, ức chế hay bực bội không. Cũng có thể đối tác đàm phán đang muốn lôi kéo, cuốn hút về một hướng khác và tìm cách khai thác thêm thông tin.

5. Phải biết trình bày, sử dụng từ ngữ một cách khôn khéo, linh hoạt.

Đừng bao giờ nói rằng vấn đề này mình có quan điểm khác mà nên nói về cơ bản mình cũng nghĩ như vậy nhưng chỉ muốn nhấn mạnh thêm điểm này. Ðừng nói thẳng rằng đối tác có cách nhìn nhận sai lầm mà nên nói đó cũng là một cách nhìn nhận đúng nhưng chúng ta cũng thử lật lại vấn đề một lần nữa xem sao. Ðừng bao giờ nói hàng hóa, dịch vụ của mình là rẻ vì rẻ thường đem lại ấn tượng hay suy diễn không tốt về chất lượng. Khi đang tranh cãi, đàm phán về giá cả thì đừng nói: chúng ta sẽ không đạt được kết quả nếu chỉ đàm phán về giá mà nên chuyển hướng. Trước khi tiếp tục đàm phán về giá cả, chúng ta nên trao đổi xem xét thêm chất lượng, hình thức của hàng hóa, phương thức thanh tóan,… Nếu đối tác bị ấn tượng thì vấn đề giá cả không còn quá gay cấn khi tiếp tục đàm phán.

6. Người đàm phán kinh doanh phải biết hỏi nhiều thay vì nói nhiều.

Người nào hỏi nhiều thì người đó sẽ có lợi thế, không chỉ về thông tin mà cả về tâm lý, về tính chủ động trong đàm phán. Những câu hỏi hợp lý khéo léo sẽ chứng minh cho đối tác là mình luôn luôn lắng nghe, quan tâm đến điều họ đang nói. Chính trong thời gian lắng nghe bạn có thể phân tích, tìm hiểu các động cơ, ý muốn của đối tác đàm phán. Tùy từng trường hợp có thể đặt câu hỏi trực tiếp hay gián tiếp. Câu hỏi trực tiếp thường được đặt ra khi mới bắt đầu đàm phán, giúp giảm bớt khoảng cách giữa hai bên đàm phán và có được nhiều thông tin trước khi thật sự bắt đầu đàm phán. Các câu hỏi gián tiếp cũng có thể là câu hỏi đón đầu, thường sử dụng ở những giai đoạn sau của cuộc đàm phán thương thuyết. Khi cần làm rõ hay khẳng định một điều gì, nên đặt câu hỏi sao cho đối tác chỉ cần trả lời có hay không. Tất nhiên phải thận trọng nếu đặt nhiều câu hỏi loại này vì sẽ gây cho đối tác cảm giác bực mình, khó chịu.

7. Người đàm phán cần phải biết mình có thể được phép đi tới đâu, tự do đàm phán tới giới hạn nào.

Ðâu là điểm thấp nhất mà mình có thể chấp nhận được. Ðâu là điểm mình không bao giờ được thay đổi theo hướng có lợi cho đối tác. Biết được giới hạn đàm phán, tức là sẽ biết được thời điểm phải ngừng hay chấm dứt đàm phán và chuyển hướng, tìm phương án giải quyết khác. Không phải cuộc đàm phán thương thuyết thương mại nào cũng dẫn đến ký kết hợp đồng thương mại. Người có khả năng đàm phán tốt phải là người có đủ dũng cảm và quyết đóan không chịu ký kết một hợp đồng kinh doanh nếu có thể gây bất lợi cho mình. Ðể đàm phán thành công, không nên thực hiện cứng nhắc theo nguyên tắc “được ăn cả, ngã về không”.

8. Ðể thành công trong đàm phán kinh doanh, cần có một ý thức, tư duy sẵn sàng thoả hiệp nếu cần thiết.

Có khi “một món quà nhỏ”, một sự nhường nhịn, chấp nhận nhỏ cho đối tác thì có thể đem lại cho bạn cả một hợp đồng kinh doanh béo bở. Ðàm phán kinh doanh là một quá trình thường xuyên phải chấp nhận “cho và nhận”; phải cân nhắc so sánh, phải tranh luận và chờ đợi. Ðừng nên để xuất hiện cảm giác lộ liễu có người thắng và người thua sau cuộc đàm phán kinh doanh, nếu như bạn còn tiếp tục kinh doanh với đối tác đó. Kết quả đàm phán là cả hai bên đều có lợi, là sự trao đổi tự nguyện giữa hai bên. Vì vậy, khi đàm phán không chỉ chú ý cứng nhắc một chiều quyền lợi, mục đích riêng của một bên mà phải chú ý đến cả nhu cầu của bên kia.

9. Ðể tránh cho những hiểu lầm vô tình hay hữu ý và để tránh nội dung đàm phán, thương thuyết bị lệch hướng, nhà đàm phán phải biết nhắc lại kết luận những điểm đã trao đổi, thống nhất giữa hai bên trước khi chuyển sang nội dung đàm phán mới.

 

Bước ngoặt trong quá trình đàm phán thương lượng

Bước ngoặt trong quá trình đàm phán thương lượng

Nếu hai bên cùng có thiện ý hợp tác lâu dài, lúc đó sẽ xuất hiện một khái niệm thường được áp dụng trong trường hợp này, đó là “ba bước ngoặt trong đàm phán”. Theo đó, một cuộc đàm phán nên tiến hành theo ba bước như sau: thẩm định giá cả, thiết lập giá mới và khắc phục chướng ngại. Đây là cách để giúp các nhà tham gia đàm phán nắm được tiến trình cũng như khung chung của một cuộc đàm phán.

Ba bước ngoặt trong đàm phán bao gồm:

Bước ngoặt trong quá trình đàm phán thương lượng

Bước ngoặt trong quá trình đàm phán thương lượng

1. Thẩm định giá cả: đây là giai đoạn đầu tiên trong đàm phán, hai bên tham gia đàm phán sẽ trao đổi với nhau một cách cụ thể và rõ ràng các lợi ích cần thiết của bên mình. Việc thẩm định lại giá cả sẽ giúp thoả mãn các yêu cầu đặt ra của bên đối các cũng như các thế mạnh của họ có khi tham gia đàm phán. Bước quan trọng nhất trong giai đoạn này là phải làm sao nắm bắt và hiểu rõ những yêu cầu thực sự của bên đối tác. Vì vậy kỹ năng tốt nhất nên sử dụng trong giai đoạn này là nên đưa ra nhiều câu hỏi, để từ đó thăm dò được nhu cầu thực sự của họ.

Đây cũng là lúc bạn nên tuỳ theo tình hình và diễn biến của cuộc đàm phán để thẩm định lại những lợi ích vốn có. Khi bạn càng hiểu rõ được mục đích thực sự của đối tác, bạn sẽ càng biết cách nên làm thế nào để đáp ứng được nhu cầu của họ; đồng thời bên đối tác có nắm được các lợi ích vốn có của bạn thì họ mới có thể đáp ứng được yêu cầu của bạn đưa ra.

Có rất nhiều cách để khiến đối tác không thể nắm được những lợi ích vốn có cũng như các mục đích và yêu cầu đặt ra thực sự của bên bạn, để giúp bên bạn “tung hoả mù” với đối phương, khiến đối phương đi lệch hướng, nhằm giúp thực hiện các mục đích vốn có của bạn. Nhưng tốt nhất, trong giai đoạn này bạn không nên lúc nào cũng tìm cách đánh lạc hướng của đối tác vì như vậy kẻ chịu thiệt cuối cùng chính là bạn.

2. Thiết lập lại giá cả: Đây là giai đoạn giữa của cuộc đàm phán, hai bên sẽ trao đổi qua lại về vấn đề giá cả, đồng thời đắn đo cân nhắc kỹ lưỡng về các lợi ích đạt được của mỗi bên, qua đó tìm hiểu nhu cầu cụ thể của đối tác đặt ra là gì. Nhưng những cam kết đạt được sau đàm phán không hẳn sẽ đem lại cho hai bên những lợi ích tốt nhất, điều đó cũng có nghĩa là, những lợi ích mỗi bên đạt được sẽ không cân bằng nhau. Nếu như đạt được sự cân bằng giữa hai bên tham gia thì các cam kết đạt được sau đàm phán chắc chắn không phải là phương án tốt nhất.

Do vậy, hai bên tham gia đàm phán nên nghĩ ra cách để có thể đạt được một phương án tốt nhất cho cả hai bên, giúp cho cả hai bên tham gia đàm phán đều đạt được lợi ích cao nhất, thao tác này chính là thao tác sẽ được tiến hành trong giai đoạn thiết lập giá mới.
Thiết lập giá mới là một trong những giai đoạn rất dễ bị bỏ qua trong các cuộc đàm phán thương mại. Trong các cuộc đàm phán bình thường, rất ít người tham gia đàm phán có thể quan sát được toàn bộ cục diện đàm phán và đưa ra được những phương án tốt nhất, mang tính sáng tạo và cân bằng nhất về mặt lợi ích đối với hai bên. Điều đó khiến cho các thành viên tham gia đàm phán có cảm giác cuộc đàm phán không được như ý muốn, không có cảm giác mình đã “thắng”, hoặc luôn tồn tại cảm giác vấn đề chưa được hoàn toàn giải quyết. Do đó, việc chọn ra được một phương án tốt nhất đóng vai trò vô cùng quan trọng đến thành công của buổi đàm phán.

3. Khắc phục chướng ngại: Đây là giai đoạn phải vừa đánh vừa giữ trong đàm phán. Tất cả các chướng ngại phát sinh trong đàm phán thường xuất phát từ hai phương diện sau đây:

– Hai bên tham gia đàm phán có những va chạm nhau về lợi ích.

– Bản thân người tham gia đàm phán gặp trở ngại trong việc đưa ra các quyết sách.

Chướng ngại đầu tiên yêu cầu các bên tham gia đàm phán phải dựa theo những nguyên tắc hợp lý, khách quan và công bằng để điều tiết những lợi ích riêng của cả hai. Còn với chướng ngại thứ hai, bên không gặp phải chướng ngại chủ động giúp đỡ bên gặp phải chướng ngại giải quyết để bản thân họ có thể đưa ra được những quyết sách một cách thuận lợi.

Ba khúc ngoặt trong đàm phán là nguyên tắc có thể dùng cho bất kỳ một cuộc đàm phán thương mại nào. Chỉ cần cả hai bên tham gia đàm phán có thể ghi nhớ các bước trình tự kể trên trong đàm phán thương mại, đồng thời tuân thủ một cách có hiệu quả theo các phương pháp thích hợp, thì có thể khiến cho cả hai bên đều giành được thắng lợi, cùng đạt được mục đích cao nhất sau đàm phán.